Trong kỷ nguyên kinh tế số, việc các doanh nghiệp thuê ngoài các cá nhân hoặc đơn vị chuyên nghiệp để phát triển phần mềm, xây dựng ứng dụng di động hoặc thiết kế website đã trở thành một hoạt động thương mại thiết yếu. Đối với các doanh nghiệp, mã nguồn (source code) chính là xương sống, là tài sản chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, doanh nghiệp có thực sự sở hữu 100% mã nguồn khi thuê bên ngoài phát triển phần mềm? Việc thuê viết code bản quyền thuộc về ai? Bài viết dưới đây sẽ giải thích những vấn đề này, xin mời các bạn tham khảo.
Quy định pháp luật về “Tác giả” và “Chủ sở hữu”
Để biết chính xác khi thuê viết code bản quyền thuộc về ai, doanh nghiệp cần hiểu rõ cơ chế phân định giữa hai khái niệm hoàn toàn khác biệt trong luật: “Tác giả sáng tạo” và “Chủ sở hữu quyền tác giả”.

Quyền độc quyền của người trực tiếp sáng tạo (Tác giả)
Căn cứ theo quy định tại Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ 2009 sửa đổi sung 2019, 2022, 2025 (Luật SHTT):
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.
2. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.
3. Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.
Đối chiếu vào mối quan hệ thuê ngoài, lập trình viên (coder) hoặc đội ngũ kỹ sư của đơn vị outsourcing mới chính là người trực tiếp sử dụng tư duy, trí tuệ và kỹ năng lập trình để định hình nên các đoạn mã nguồn. Do đó, về mặt pháp lý, họ là Tác giả duy nhất của tác phẩm phần mềm đó. Doanh nghiệp đặt hàng cho dù có đưa ra ý tưởng, viết tài liệu mô tả tính năng (BRD) hay cấp ngân sách thì cũng chỉ đóng vai trò hướng dẫn, không được công nhận là tác giả.
Quyền của bên xuống tiền đầu tư (Chủ sở hữu quyền tác giả)
Căn cứ theo Điều 39 Luật SHTT có quy định về Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả như sau:
1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Theo quy định này, nếu giữa doanh nghiệp và bên thuê ngoài ký kết một hợp đồng dịch vụ công nghệ/gia công phần mềm hợp pháp, doanh nghiệp sẽ mặc nhiên được công nhận là Chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần mềm đó (với điều kiện trong hợp đồng không có bất kỳ điều khoản nào quy định ngược lại).
Bản chất sự phân chia quyền đối với mã nguồn phần mềm
Việc xác định doanh nghiệp là “Chủ sở hữu” không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có 100% quyền hạn tuyệt đối trên sản phẩm như nhiều người vẫn nghĩ. Luật SHTT chia quyền tác giả thành hai nhóm độc lập: Quyền nhân thân (Điều 19 Luật SHTT) và Quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT). Sự phân chia này chính là chiếc chìa khóa để trả lời cho câu hỏi thuê viết code bản quyền thuộc về ai trên phương diện thực tế kinh doanh. Cụ thể:
| Nhóm Quyền | Các quyền cụ thể theo Luật SHTT | Chủ thể nắm giữ | Doanh nghiệp có quyền can thiệp tự động? |
| Quyền Nhân thân khoản 2 và 4 Điều 19 (Gắn liền với cá nhân tác giả, không thể chuyển giao) | – Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; – Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. | Lập trình viên / Đơn vị Outsourcing (Tác giả) | Doanh nghiệp không thể tự ý xóa tên lập trình viên trong phần thông tin khai báo mã nguồn hoặc tuyên bố mình là người trực tiếp viết code. Lưu ý: Đối với quyền bảo vệ sự toàn vẹn, doanh nghiệp cần thỏa thuận trước trong hợp đồng về quyền được vá lỗi (fix bug), nâng cấp code để phục vụ kinh doanh. |
| Quyền Nhân thân khoản 1 và 3 Điều 19 (Có thể chuyển giao) | – Đặt tên cho tác phẩm.Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này; – Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; | Doanh nghiệp (Chủ sở hữu) | Doanh nghiệp toàn quyền quyết định thời điểm phát hành, thương mại hóa phần mềm ra thị trường. |
| Quyền Tài sản Điều 20 (Mang giá trị kinh tế, quyền khai thác) | – Làm tác phẩm phái sinh. – Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm; – Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; – Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này; – Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn; – Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê. | Doanh nghiệp (Chủ sở hữu) | Doanh nghiệp được toàn quyền khai thác thương mại, bán bản quyền, thu phí người dùng hoặc chuyển nhượng khối tài sản này cho bên khác. |
Như vậy, về mặt kinh tế, doanh nghiệp sở hữu trọn vẹn quyền khai thác. Nhưng về mặt tinh thần và bản sắc sáng tạo, lập trình viên vẫn nắm giữ những quyền nhân thân cốt lõi mà doanh nghiệp không thể xâm phạm nếu không có thỏa thuận trước.

Những rủi ro pháp lý khi doanh nghiệp mù mờ về bản quyền
Nhiều vụ tranh chấp kéo dài tại Tòa án xuất phát từ việc các bên không làm rõ ngay từ đầu vấn đề thuê viết code bản quyền thuộc về ai. Khi sản phẩm phần mềm vận hành ổn định và đem lại nguồn doanh thu lớn, những lỗ hổng trong hợp đồng sẽ trở thành vũ khí để bên thuê ngoài quay lại gây bất lợi cho doanh nghiệp.
Rủi ro từ “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm”
Mã nguồn của một phần mềm không phải là một thực thể cố định. Trong quá trình vận hành, doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện các hoạt động bảo trì, sửa lỗi (fix bug), tối ưu hóa hoặc nâng cấp các tính năng mới để bắt kịp xu hướng.
Theo luật, tác giả có quyền phản đối mọi hành vi sửa đổi, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình. Nếu doanh nghiệp tự ý chấm dứt hợp đồng với bên outsourcing cũ và thuê một đơn vị mới vào can thiệp, chỉnh sửa, thay đổi cấu trúc các đoạn code cũ, bên outsourcing ban đầu hoàn toàn có thể khởi kiện doanh nghiệp vi phạm quyền nhân thân. Đây là rủi ro pháp lý cực lớn nếu doanh nghiệp chủ quan không quy định rõ việc thuê viết code bản quyền thuộc về ai đối với phần quyền được cải biên, sửa đổi mã nguồn.
Tranh chấp khi bên thuê ngoài tái sử dụng mã nguồn cho đối thủ
Nếu hợp đồng dịch vụ không có các điều khoản ràng buộc chặt chẽ về tính độc quyền và bảo mật, đơn vị outsourcing hoàn toàn có thể sử dụng lại chính các module code, kiến trúc hệ thống dữ liệu cốt lõi mà họ đã phát triển cho bạn để xây dựng một phần mềm tương tự cho một doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Doanh nghiệp đặt hàng rơi vào thế yếu vì dù có quyền tài sản nhưng không thể cấm tác giả sử dụng “tư duy lập trình” và các đoạn code do chính họ tạo ra trước đó.
Hiểm họa từ mã nguồn mở (Open Source) và thư viện của bên thứ ba
Để đẩy nhanh tiến độ bàn giao sản phẩm, rất nhiều lập trình viên tự do thường nhúng các thư viện mã nguồn mở có sẵn trên mạng vào hệ sinh thái của doanh nghiệp. Một số loại giấy phép mã nguồn mở (như GPL) quy định nghiêm ngặt rằng: Nếu bạn sử dụng mã nguồn của họ, toàn bộ phần mềm thương mại của bạn sau đó cũng phải được công bố công khai miễn phí cho cộng đồng. Điều này vô tình biến tài sản độc quyền của doanh nghiệp thành tài sản công cộng, gây thiệt hại không thể đong đếm.
Lưu ý dành cho Doanh nghiệp thuê viết code
Để doanh nghiệp không phải rơi vào thế bị động và tự tin làm chủ tài sản số, đồng thời xác định rõ việc thuê viết code bản quyền thuộc về ai, việc thiết lập một hợp đồng gia công/dịch vụ phần mềm với các điều khoản SHTT chặt chẽ là điều bắt buộc. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các nội dung sau cần có trong hợp đồng:
- Chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên: Quy định rõ việc tác giả chuyển giao quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho doanh nghiệp để tự do đổi tên phần mềm/app thương mại theo chiến lược kinh doanh.
- Thỏa thuận quyền cải biên và nâng cấp code: Đưa điều khoản cho phép doanh nghiệp hoặc bên thứ ba được phép can thiệp chỉnh sửa, vá lỗi (fix bug), nâng cấp tính năng của mã nguồn mà không bị coi là vi phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
- Giới hạn quyền công bố tác phẩm của tác giả: Thỏa thuận cấm bên thuê ngoài tự ý đăng tải mã nguồn, giao diện hoặc thông tin dự án lên mạng xã hội/hồ sơ năng lực (portfolio) cá nhân trước khi sản phẩm được doanh nghiệp chính thức ra mắt.
- Cam kết tính nguyên bản (IP Clearance): Buộc bên viết code cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm pháp lý và chi phí đền bù nếu mã nguồn bàn giao bị bên thứ ba khiếu nại vi phạm bản quyền.
- Kiểm soát mã nguồn mở (Open Source): Quy định bên được thuê phải thông báo bằng văn bản và có sự đồng ý của doanh nghiệp trước khi sử dụng các thư viện mã nguồn mở, đảm bảo các giấy phép này (như GPL) không ép buộc doanh nghiệp phải công khai mã nguồn thương mại ra cộng đồng.
- Điều khoản chống cạnh tranh (Non-compete): Ràng buộc đơn vị outsourcing không được tái sử dụng cấu trúc mã nguồn hoặc thiết kế hệ thống tương tự để cung cấp cho các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp.