Trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đều là kết tinh của trí tuệ, cảm xúc và lao động sáng tạo ra. Để bảo vệ những giá trị ấy, pháp luật đặt ra một cơ chế quan trọng là quyền tác giả đối với tác phẩm. Đây là một phần của quyền sở hữu trí tuệ, nhằm bảo vệ quyền lợi về tinh thần và vật chất của người sáng tạo ra tác phẩm.
Quyền tác giả là gì?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2022, quyền tác giả đối với tác phẩm là là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
2. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. (Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2022).
Ví dụ: Một bài thơ được bạn viết ra giấy, một bản nhạc được ghi âm, một bức ảnh được chụp và lưu trên máy ảnh đều được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng điều kiện là tác phẩm do tác giả trực tiếp sáng tạo.

Như vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của quyền tác giả đối với tác phẩm là khi có một tác phẩm ra đời thì quyền tác giả tự động phát sinh, không cần thực hiện thủ tục đăng ký. Có thể hiểu, chỉ cần tác phẩm được tạo ra dưới dạng vật chất là quyền tác giả đã tồn tại và được bảo hộ.
Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) vẫn được khuyến khích thực hiện. Bởi Giấy chứng nhận quyền tác giả là bằng chứng pháp lý quan trọng trong trường hợp xảy ra tranh chấp, sao chép, đạo nhái.
Ai là người được công nhận là tác giả?
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm. Trong trường hợp có nhiều người cùng sáng tạo (đồng tác giả), các quyền sẽ được xác lập đồng thời trừ khi có thỏa thuận khác.
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.
2. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.
3. Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.

Bên cạnh đó, người bỏ tiền ra thuê người khác sáng tạo (ví dụ thuê viết sách, sáng tác nhạc) không được coi là tác giả, nhưng có thể là chủ sở hữu quyền tác giả nếu có hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu.
Điều 37. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
Điều 38. Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
1. Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó.
2. Các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó.
Điều 39. Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả
1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Những tác phẩm nào được bảo vệ quyền tác giả
Tác phẩm được hiểu là sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, thể hiện dưới hình thức nhất định. Được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2022), cụ thể:
– Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
đ) Tác phẩm sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm mỹ thuật[32], mỹ thuật ứng dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
i) Tác phẩm kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
– Tác phẩm phái sinh theo các loại tác phẩm nêu trên chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
– Tác phẩm nêu ở trên và tác phẩm phái sinh theo các tác phẩm nêu ở trên chỉ được bảo hộ khi do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
Bên cạnh đó, có những đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, gồm:
- Tin tức thời sự thuần túy đưa tin.
- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Đối với quyền nhân thân: Các quyền như đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn được bảo hộ vô thời hạn.
Đối với quyền tài sản:
- Tác phẩm do cá nhân sáng tạo: 70 năm sau khi tác giả qua đời (nếu nhiều tác giả thì tính từ người cuối cùng qua đời).
- Tác phẩm không có cá nhân cụ thể (thuộc sở hữu tổ chức): thời hạn là 75 năm kể từ khi công bố, nếu chưa công bố thì là 100 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra.
Quyền tác giả đối với tác phẩm là nền tảng pháp lý quan trọng bảo vệ sản phẩm sáng tạo của con người. Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc am hiểu và thực thi quyền này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành sáng tạo và văn hóa.
Nếu bạn cần tư vấn chuyên sâu về đăng ký quyền tác giải, chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm… hãy liên hệ với văn phòng luật sư Phan Law Vietnam theo thông tin dưới đây để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý sớm nhất.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư