Kính gửi Văn phòng luật Phan Law Vietnam, tôi có một vấn đề mong nhận được giải đáp từ Quý công ty như sau:
Chông tôi vào Nam trước để lập nghiệp từ 2008, nhưng sau đó bị mất liên lạc với gia đinh, năm 2011 tôi có vào trong đó tim chông như được người quen nói anh vượt biên qua campuchia và bị bệnh mất rồi, nên tôi chở về quê báo với chính quyền xã và làm đơn yêu cầu tuyên bố chồng tôi đã chết. Tới 2018 tôi nộp đơn xin ly hôn ở Tòa án huyện để tôi lấy chồng mới thì năm 2020 chồng cũ tôi chở về. Như vậy cho tôi hỏi chồng bị tuyên bố đã chết mà chở về thì quan hệ hôn nhân còn tồn tại không? Việc tôi kết hôn với chồng sau này có ảnh hưởng gì không?
Xin chân thành cảm ơn.
Xem thêm:
>> Cách phân chia tài sản khi ly hôn để khỏi chịu thiệt
>> Làm sao để ly hôn khi chồng không đồng ý?
>> Án phí chia tài sản ly hôn được tính như thế nào?
Chồng bị tuyên bố đã chết mà chở về thì quan hệ hôn nhân còn tồn tại không?
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng để chia sẻ thắc mắc của mình đến Phan Law Vietnam. Đối với trường hợp mà bạn đang gặp phải, chúng tôi xin phép được giải đáp thắc mắc và tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật hiện hành như sau:
Chồng bị tuyên bố đã chết mà chở về thì quan hệ hôn nhân còn tồn tại không?
Căn cứ khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quan hệ nhân thân khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về:
“Điều 67. Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về
- Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.”
Theo đó, nếu Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn, nếu đã có quyết định cho ly hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Vậy nên, trong trường hợp của bạn thì bạn đã được Tòa án cho ly hôn và đã kết hôn với người khác nên quan hệ hôn nhân của bạn và chồng cũ sẽ không được khôi phục.
![]()
Chồng bị tuyên bố đã chết mà chở về thì quan hệ hôn nhân còn tồn tại không?
Tài sản chung trước khi ly hôn theo tuyên bố chồng đã chết
Căn cứ khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quan hệ tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về thì quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:
Trường hợp 1: Hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;
Trường hợp 2: Hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.
Như vậy, với trường hợp hôn nhân của bạn không được khôi phục thì tài sản có được trước khi chồng bạn bị Tòa án ra quyết định tuyên bố đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Trên đây là tư vấn của Phan Law Vietnam xin được thông tin đến quý khách. Nếu còn vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để có thể được giải đáp nhanh nhất.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888 – Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư