Kết hôn không đồng nghĩa với việc mọi khoản nợ mà vợ hoặc chồng có trước đó đều trở thành nghĩa vụ tài chính của cả hai. Pháp luật phân biệt khá rõ giữa nghĩa vụ riêng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Vì vậy, việc xác định một khoản nợ phát sinh trước hay sau khi kết hôn, mục đích vay và người xác lập giao dịch là những yếu tố quan trọng để xác định ai có nghĩa vụ trả nợ.
Nợ phát sinh trước khi kết hôn và nghĩa vụ trả nợ
Theo khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) có quy định nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn là nghĩa vụ riêng về tài sản. Điều này có nghĩa, nếu một người đã vay tiền, mua hàng trả chậm hoặc phát sinh nghĩa vụ tài chính hợp pháp trước thời điểm đăng ký kết hôn thì về nguyên tắc, người đó tự chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ riêng của mình.
Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
Pháp luật cũng quy định nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Việc sau đó hai người kết hôn không tự động làm thay đổi bản chất của khoản nợ. Do đó, vợ hoặc chồng không đương nhiên phải dùng tài sản riêng của mình để trả khoản nợ mà người kia đã xác lập trước hôn nhân.

Tuy nhiên, nếu sau khi kết hôn hai vợ chồng có thỏa thuận cùng chịu trách nhiệm về khoản nợ, cùng xác lập giao dịch mới liên quan đến khoản nợ trước khi kết hôn hoặc thực hiện những giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ mới thì cần xem xét từng giao dịch cụ thể, như:
- Khoản nợ ban đầu phát sinh trước hôn nhân;
- Thỏa thuận hoặc giao dịch mới được xác lập sau khi kết hôn;
- Tài sản nào được sử dụng để bảo đảm hoặc thanh toán khoản nợ;
- Và hai vợ chồng có thỏa thuận gì về trách nhiệm đối với khoản nợ hay không.
Không nên chỉ dựa vào việc khoản tiền vay trước đây sau này được sử dụng cho gia đình để kết luận ngay rằng người còn lại phải trả cùng toàn bộ khoản nợ đã vay trước khi kết hôn.
Khi nào khoản nợ trước hôn nhân có thể liên quan đến tà sản chung?
Mặc dù khoản nợ trước hôn nhân về nguyên tắc là nghĩa vụ riêng, trên thực tế cần phân biệt giữa nghĩa vụ trả nợ và tài sản dùng để bảo đảm hoặc thanh toán khoản nợ.
Chẳng hạn, sau khi kết hôn, người có khoản nợ riêng sử dụng tài sản riêng để trả nợ thì về nguyên tắc đây vẫn là việc thực hiện nghĩa vụ riêng. Tuy nhiên, nếu hai vợ chồng có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì vấn đề quản lý và xử lý tài sản đó sẽ được xác định theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Điều 46 Luật HNGĐ cho phép vợ, chồng thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Đối với nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung, nghĩa vụ có thể được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
- Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
- Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Vì vậy, không nên chỉ nhìn vào thời điểm khoản nợ được tạo lập mà bỏ qua các thỏa thuận và giao dịch liên quan đến tài sản sau khi kết hôn.

Những khoản nợ nào được xem là nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng?
Điều 37 Luật HNGĐ quy định một số trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sau đây:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Như vậy, nợ chung không chỉ được xác định dựa vào việc khoản vay đứng tên một hay hai người mà còn được xác định trên mục đích của khoản vay. Nếu vay tiền để thanh toán những khoản chi tiêu thiết yếu phục vụ đời sống gia đình, thì trường hợp này đáp ứng điều kiện luật định, khoản nghĩa vụ này được xem xét là nghĩa vụ chung dù hợp đồng vay chỉ có chữ ký của người chồng. Ngược lại, nếu một người tự mình xác lập giao dịch nhằm phục vụ lợi ích cá nhân và không vì nhu cầu của gia đình, thì nghĩa vụ đó có thể thuộc trách nhiệm riêng của người xác lập giao dịch.
Ngoài ra, trong trường hợp nếu một người vay tiền trước khi kết hôn, khoản vay đó về nguyên tắc vẫn là nghĩa vụ riêng theo Điều 45 Luật HNGĐ. Việc sau đó hai người kết hôn không tự động làm thay đổi bản chất của khoản nợ.
Vợ hoặc chồng có phải trả khoản nợ riêng của chồng hoặc vợ khi chết không?
Đây cũng là vấn đề cần phân biệt giữa nghĩa vụ của vợ hoặc chồng với tư cách là người có nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ liên quan đến di sản của người chồng hoặc vợ để lại.
Nếu khoản nợ được xác định là nghĩa vụ riêng của người chết, người còn lại không vì quan hệ hôn nhân mà đương nhiên trở thành người vay hoặc người có nghĩa vụ cá nhân đối với khoản nợ đó.
Tuy nhiên, khi người có nghĩa vụ trả nợ chết, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản có thể liên quan đến di sản của người chết để lại và được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Được quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
- Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
- Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
Do đó, trong trường hợp này cần xác định khoản nợ riêng đó như sau: khoản nợ thuộc về ai, tài sản nào là di sản, người vợ hoặc chồng có phải là người đồng nghĩa vụ hoặc người bảo lãnh khoản vay hay không, ai là người nhận được di sản và nghĩa vụ trả nợ thực hiện như thế nào. Mới đưa ra quyết định người còn lại có nghĩa vụ trả khoản nợ riêng mà người chết còn nợ hay không.
Nếu có vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý, Quý Khách hàng vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để được giải đáp:
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư