Khi một cuộc hôn nhân đổ vỡ, phụ nữ thường là người chịu thiệt thòi nhiều nhất, cả về tinh thần, vật chất lẫn tương lai con cái. Do đó, pháp luật Việt Nam với tinh thần bảo vệ người yếu thế luôn dành những quyền lợi cụ thể, rõ ràng để phụ nữ, trẻ em được bảo vệ tốt nhất khi ly hôn. Tuy nhiên, thực tế không ít chị em thiếu thông tin, thiếu chứng cứ hoặc ngại va chạm, dẫn đến tự đánh mất quyền lợi hợp pháp của chính mình. Dưới đây là thông tin về những quyền lợi của phụ nữ khi ly hôn sẽ nhận được, các bạn đọc có thể tham khảo.
Quyền được yêu cầu ly hôn và lựa chọn hình thức ly hôn
Trước tiên, pháp luật Việt Nam quy định cả vợ và chồng đều bình đẳng về quyền yêu cầu ly hôn (Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014). Nghĩa là người vợ có toàn quyền đơn phương yêu cầu ly hôn nếu hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài; hoặc thỏa thuận ly hôn thuận tình với chồng.

Đặc biệt có một trường hợp ưu tiên là: Người chồng không được quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP). Đây là quy định quan trọng để bảo vệ người phụ nữ yếu thế, tránh việc bị đẩy ra khỏi gia đình khi đang mang nặng đẻ đau, sức khỏe yếu. Tuy nhiên, người vợ hoàn toàn có thể gửi đơn yêu cầu ly hôn đơn phương trong giai đoạn này.
Điều 2. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình
1. “Đang có thai” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén.
2. “Sinh con” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;
b) Vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con;
c) Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.
3. Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này hoặc ngày đình chỉ thai nghén hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.
5. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.
6. Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì việc xác định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của chồng như sau:
a) Chồng của người mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
b) Chồng của người nhờ mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc khi người mang thai hộ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Quyền được trực tiếp nuôi con khi ly hôn
Một trong những quyền lợi then chốt khi ly hôn là quyền nuôi con đó là người mẹ được giao quyền trực tiếp nuôi con trừ trường hợp không đủ điều kiện theo hướng dẫn ở khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
Được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Trên thực tế, phụ nữ thường có lợi thế lớn trong tranh chấp quyền nuôi con vì điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng thường tốt hơn so với người cha, nhất là với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, người mẹ cần chuẩn bị hồ sơ chứng minh thu nhập, nơi ở, điều kiện giáo dục, người hỗ trợ chăm sóc con… Nếu chồng hoặc gia đình chồng muốn giành quyền nuôi con, bạn cần luật sư hỗ trợ thu thập chứng cứ đầy đủ.
Ngoài ra, bên không trực tiếp nuôi con (thường là người cha) phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Khoản cấp dưỡng này có thể thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định dựa trên thu nhập, nhu cầu của trẻ. Người mẹ có quyền yêu cầu thi hành án nếu chồng không tự nguyện cấp dưỡng.
Được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP như sau:
1. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.
2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
3. Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.
4. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Quyền được chia tài sản chung công bằng
Một quyền lợi quan trọng nữa là quyền chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn. Nguyên tắc chia tài sản được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình:
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.
Như vậy, tài sản chung thường chia theo nguyên tắc chia đôi, nhưng có xem xét đến các yếu tố: hoàn cảnh, công sức đóng góp, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng các bên, lỗi vi phạm nghĩa vụ hôn nhân. Tài sản riêng của ai thì người đó sở hữu (tài sản có trước hôn nhân, được tặng cho riêng, thừa kế riêng…).
Thực tế, nhiều phụ nữ nội trợ, ở nhà chăm con thường sợ rằng mình không có thu nhập thì không có phần tài sản điều này hoàn toàn sai. Luật công nhận công sức đóng góp về tinh thần, thời gian, công việc nội trợ cũng có giá trị như đóng góp tài chính. Do đó, người vợ hoàn toàn có quyền yêu cầu chia phần công bằng.
Ví dụ: nhà đất đứng tên chung, sổ tiết kiệm, ô tô mua trong thời kỳ hôn nhân… đều là tài sản chung, trừ khi chứng minh được là tài sản riêng của một bên.
Ngoài ra, người vợ có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu chồng có hành vi tẩu tán, che giấu tài sản (Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình). Đây là công cụ pháp lý quan trọng khi chồng muốn bán nhà, chuyển nhượng đất, rút tiền tiết kiệm để trốn tránh nghĩa vụ.
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Trong vụ án ly hôn, người vợ có quyền yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: phong tỏa tài khoản ngân hàng, kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền sở hữu. Việc này đòi hỏi phải có hồ sơ, chứng cứ rõ ràng, thường nên nhờ luật sư thực hiện để tránh sai thủ tục.
Quyền được bảo vệ nếu là nạn nhân bạo lực gia đình
Trong trường hợp bị chồng bạo lực, đe dọa tính mạng, phụ nữ có quyền:
- Làm đơn yêu cầu Tòa án ban hành lệnh cấm tiếp xúc, buộc chồng phải rời khỏi nơi ở chung.
- Yêu cầu công an xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi bạo lực nghiêm trọng.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần nếu chứng minh được.
- Nhiều phụ nữ ngại tố cáo vì sợ xấu hổ, sợ “việc trong nhà đóng cửa bảo nhau” — đây là sai lầm khiến nhiều nạn nhân mất cơ hội bảo vệ bản thân. Hãy nhớ: pháp luật đứng về phía bạn, nhất là khi có con nhỏ.
Phụ nữ thuộc nhóm yếu thế (không có thu nhập, vùng sâu vùng xa, hoàn cảnh khó khăn) được quyền xin trợ giúp pháp lý miễn phí từ Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước. Ngoài ra, nếu cần, bạn có thể thuê luật sư riêng để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý từ khâu soạn hồ sơ, nộp đơn, tham gia hòa giải, xét xử, thi hành án.
Trên đây là phần phản hồi pháp lý của Phan Law Vietnam xin được thông tin đến Quý Khách hàng. Nếu còn vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý khác Quý Khách hàng vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để được giải đáp.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư