Trong lĩnh vực sáng tạo, đặc biệt là âm nhạc, mỗi tác phẩm ra đời không chỉ là đứa con tinh thần mà còn là tài sản trí tuệ quý giá của người nhạc sĩ đó. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, việc bảo vệ bản quyền âm nhạc vẫn còn là nỗi trăn trở lớn đối với nhiều nhạc sĩ Việt Nam.
Xem thêm:
>> Hướng dẫn cách đăng ký bản quyền Youtube cho tác phẩm âm nhạc
>> Nạn vi phạm bản quyền âm nhạc khiến nhiều nghệ sĩ bức xúc
Tác phẩm âm nhạc cần được bảo vệ
Tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả có quy định tác phẩm âm nhạc như sau:
4. Tác phẩm âm nhạc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.
Quy định d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa bổ sung 2022:
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
Như vậy, có thể hiểu một bản nhạc khi được viết ra dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn sẽ được pháp luật bảo hộ dưới dạng tác phẩm âm nhạc. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ các bước cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình đối với tác phẩm đó.
Quyền tác giả được hình thành ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể nội dung, chất lượng, cách thể hiện, phương tiện truyền đạt, ngôn ngữ sử dụng, cũng như việc đã công bố hay chưa đăng ký. Đối với tác phẩm âm nhạc, quyền tác giả cũng được bảo hộ khi người nhạc sĩ viết ra tác phẩm dưới dạng nốt nhạc, khuông nhạc, giai điệu bài hát, thành một bài hát hoàn chỉnh.
Người nhạc sĩ thường đối mặt với các tình huống tác phẩm bị sử dụng trái phép trên mạng xã hội, nền tảng phát nhạc trực tuyến; bị sao chép, cải biên mà không xin phép; hay bị người khác đăng ký bản quyền trước. Điều này gây ra không chỉ thiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng nặng nề đến uy tín và danh tiếng của người sáng tác.

Luật sư Phan Vũ Tuấn chia sẻ tại chương trình giới thiệu, giao lưu về bản quyền trong lĩnh vực âm nhạc, tại Phố đi bộ Nguyễn Huệ vào tối ngày 20 tháng 4: Trước đây, tình trạng xâm phạm bản quyền diễn ra rất nhiều. Hiện nay, nhờ nỗ lực từ phía các cơ quan nhà nước và các đơn vị đại diện quyền sở hữu, hành vi xâm phạm đã phần nào được kiểm soát.
Hiện nay, các hành vi xâm phạm bản quyền có thể được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là những người không nhận thức được rằng mình đang xâm phạm và nhóm thứ hai là những người cố ý vi phạm.
Vấn đề quan trọng nhất nằm ở tư duy của chính các tác giả. Những người sáng tạo phải là người đầu tiên có ý thức tự bảo vệ tác phẩm của mình. Mỗi năm có hàng chục ngàn tác phẩm ra đời, không một cơ quan nhà nước nào có thể kiểm soát hết.

Hành vi xâm phạm bản quyền âm nhạc bị phạt như thế nào?
Theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 28/2017/NĐ-CP, quy định về các mức xử phạt hành chính hành vi xâm phạm bản quyền âm nhạc.
Mức phạt đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm, quy định tại Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi bởi Khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP như sau:
– Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
– Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.
Mức phạt đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại, quy định tại Điều 29 Nghị định 131/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP như sau:
– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch, cửa hàng, siêu thị mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định;
- Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong lĩnh vực hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh thương mại khác mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu theo quy định.
– Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính viễn thông, môi trường kỹ thuật số mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.
– Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số đối với hành vi quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.
Nếu còn vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý khác Quý Khách hàng vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để được giải đáp.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư