Ngày Tết, thời điểm mọi người đang sum vầy bên gia đình, chia sẻ niềm vui, thì không khí lễ hội lại đôi khi chuyển biến trở thành bi kịch với nhiều gia đình do tình trạng tai nạn giao thông. Đây không chỉ là một vấn đề cá nhân mà còn là một thách thức lớn đối với cả xã hội.
Tình trạng và nguyên nhân tai nạn giao thông ngày Tết
Mỗi năm, khi Tết đến, các tuyến đường trở nên đông đúc hơn do người dân đổ về quê hương hay đi du lịch. Sự tăng cường lưu lượng xe cộ gặp phải với tình trạng đường xá không đồng đều, hệ thống giao thông trở nên căng trước những thách thức không lường trước được. Điều này dẫn đến việc tăng cường rủi ro tai nạn giao thông, gây mất mát không chỉ về người mà còn về tinh thần gia đình và cộng đồng.
Nguyên nhân của tình trạng tai nạn giao thông ngày Tết có thể xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau. Sự vội vã, áp lực thời gian và tâm lý hứng khởi của ngày lễ có thể khiến người lái xe mất tập trung, suy nghĩ không đúng đắn và đôi khi thậm chí làm tăng nguy cơ tai nạn.
Ngoài ra, việc sử dụng rượu bia trong những buổi tiệc tùng cũng đóng một vai trò quan trọng trong tình trạng tai nạn giao thông. Sự mất kiểm soát về tinh thần và thể chất khi sử dụng chất cồn không chỉ ảnh hưởng đến khả năng lái xe mà còn làm tăng khả năng xảy ra tai nạn.

Mức phạt đối với người gây tai nạn giao thông ngày Tết
Đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô
Điểm đ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, có quy định về việc người điều khiển xe có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. Đồng thời còn bị bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (theo điểm b khoản 11 Điều 5).
Điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP quy định, đối với hành vi không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe, lùi xe, tránh xe, vượt xe, chuyển hướng, chuyển làn đường không đúng quy định gây tai nạn giao thông; không đi đúng phần đường, làn đường, không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông hoặc đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển, đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều” gây tai nạn giao thông (trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Đồng thời còn bị bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (theo điểm b khoản 11 Điều 5).
Điểm b khoản 8 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn thì bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng. Đồng thời còn bị bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 05 tháng đến 07 tháng (theo điểm đ khoản 11 Điều 5);
Khoản 9 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, Phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ; dùng chân điều khiển vô lăng xe khi xe đang chạy trên đường mà không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc gây tai nạn giao thông. Đồng thời, còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng (theo điểm d khoản 11 Điều 5).
Đối với xe xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy
Điểm e khoản 3 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi điều khiển xe có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn, (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng; Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (theo điểm b khoản 10).
Điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; đi vào đường cao tốc, dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe, lùi xe, tránh xe, vượt xe, chuyển hướng, chuyển làn đường không đúng quy định gây tai nạn giao thông; không đi đúng phần đường, làn đường, không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông hoặc đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển, đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều” gây tai nạn giao thông, (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (theo điểm c khoản 10).
Điểm đ khoản 8 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn thì bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng (theo điểm d khoản 10).
Khoản 9 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi:
- Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;
- Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;
- Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;
Mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng. Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng (theo điểm d khoản 10).
Xem thêm: Lái xe hay chủ xe phải bồi thường thiệt hại theo pháp luật khi xảy ra tai nạn giao thông?
Đối với máy kéo, xe máy chuyên dùng (sau đây gọi chung là xe)
Điểm g khoản 3 Điều 7 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi điều khiển xe có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn, (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. Đồng thời bị bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 01 tháng đến 03 tháng (theo điểm a khoản 10).
Điểm a khoản 7 Điều 7 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe, lùi xe, tránh xe, vượt xe, chuyển hướng, chuyển làn đường không đúng quy định gây tai nạn giao thông; không đi đúng phần đường, làn đường, không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông hoặc đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển, đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều” gây tai nạn giao thông, (trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b khoản 8 Điều này) thì bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 tháng đến 04 tháng (theo điểm b khoản 10).
Điểm c khoản 8 Điều 7 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 05 tháng đến 07 tháng (theo điểm c khoản 10).
Đối với xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác
Điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, đối với hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn thì bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng.
Phương pháp giảm thiểu tai nạn giao thông ngày Tết
Để giảm thiểu rủi ro và bi kịch trong những dịp lễ như Tết, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, cộng đồng và cá nhân. Các chiến dịch an toàn giao thông, tăng cường kiểm soát việc sử dụng chất cồn khi lái xe, và tăng cường kiểm tra định kỳ cho các phương tiện giao thông là những biện pháp có thể giúp giảm thiểu tai nạn.
Chúng ta cùng nhau chia sẻ trách nhiệm để bảo vệ bản thân và bảo vệ cộng đồng trước những bi kịch không mong muốn trong những dịp lễ quan trọng như ngày Tết.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888 – Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư