Sản xuất hàng giả là gì?
Hành vi “nhận làm” hoặc “sản xuất theo yêu cầu” các sản phẩm có kiểu dáng, nhãn hiệu giống hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hàng thật chính là sản xuất hàng giả hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều này không chỉ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, kiểu dáng đã được bảo hộ mà còn trực tiếp xâm phạm lợi ích kinh doanh chính đáng của doanh nghiệp.
Tại khoản 1 Điều 33 Nghị định 98/2020/NĐ-CP có giải thích về hành vi sản xuất như sau:
“Sản xuất” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.
Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định các trường hợp bị coi là hàng giả như sau:
a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
c) Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;
d) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
e) Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.
Mức xử lý đối với hành vi sản xuất hàng giả
Việc sản xuất hàng giả có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.

Theo khoản 4 Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b Khoản 1 Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ-CP như sau: Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực sản xuất hàng giả là 200.000.000 đồng đối với cá nhân và 400.000.000 đồng đối với tổ chức.
Nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả gây ra, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2025) với các tội danh liên quan, cụ thể:
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192): Nhẹ thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, trường hợp phạm tội nghiêm trọng có thể lên đến 15 năm tù.
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193): Nhẹ thì bị phạt từ 02 năm đến 05 năm tù, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194): Nhẹ thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195): Nhẹ thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến 20 năm tù.
- Ngoài các hình phạt tù, Tòa án còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh trong một thời hạn nhất định.
- Bên cạnh đó, (theo khoản 1 Điều 266) nếu người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam, trong trường hợp hàng hóa bị xác định là giả mạo nhãn hiệu và hành vi được thực hiện với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc giá trị hàng hóa vi phạm từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Cần làm gì khi bị người khác sao chép làm giả sản phẩm?
Trao đổi với báo VTV Times, Luật sư Trương Thị Dạ Thảo cho biết:
“Doanh nghiệp thời trang thường gặp vướng mắc lớn trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là mẫu mã sản phẩm do mất tính mới khi công bố mẫu rồi mới đăng ký, dẫn tới mẫu không đủ điều kiện bảo hộ. Bên cạnh đó, các sản phẩm thời trang thường theo trend nên tính sáng tạo mờ nhạt, dễ bị từ chối bảo hộ. Thủ tục đăng ký rườm rà, tốn thời gian, chi phí cao trong khi vòng đời mẫu thời trang ngắn, theo mùa.”
Bên cạnh đó, Luật sư Dạ Thảo cũng có gợi ý lộ trình thực tế cho doanh nghiệp thời trang, đặc biệt là nhóm SME:
“Cần nộp đơn kiểu dáng công nghiệp để giữ tính mới trước khi công bố mẫu; nếu đã lỡ công bố, tận dụng “cửa sổ 6 tháng” theo Luật SHTT để nộp đơn khẩn cấp. Trường hợp chưa kịp công bố đã bị vi phạm, doanh nghiệp cần thu thập các bằng chứng để chứng minh quá trình sáng tạo, như bản vẽ phác thảo, bản thiết kế gốc, mẫu thử; ngày, giờ đăng tải, công bố trên mạng xã hội hoặc website,… Đồng thời, kiên trì tố cáo hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ.”

Việc công khai chào mời sản xuất hàng giả không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho doanh nghiệp mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Như vậy, khi phát hiện các cá nhân/đơn vị khác sao chép hoặc làm giả sản phẩm của mình, điều đầu tiên doanh nghiệp cần làm là xác định rõ hành vi xâm phạm và thu thập đầy đủ bằng chứng. Việc sao chép có thể dưới nhiều hình thức như làm nhái mẫu mã hoặc tái sản xuất toàn bộ sản phẩm mà không được phép… Doanh nghiệp nên lưu giữ hóa đơn, chứng từ mua bán, hình ảnh, video và thậm chí là mẫu vật của hàng giả để làm căn cứ pháp lý.
Song song đó, cần kiểm tra lại tình trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của sản phẩm như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền… Nếu chưa đăng ký, việc xử lý sẽ gặp khó khăn hơn, còn nếu đã đăng ký, bạn sẽ có cơ sở vững chắc để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp.
Bước tiếp theo là lựa chọn phương án xử lý phù hợp. Doanh nghiệp có thể gửi thông báo hoặc công văn yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi hoặc thương lượng để giải quyết hòa bình. Nếu đối phương không hợp tác, cần mạnh dạn sử dụng các biện pháp pháp lý như khiếu nại, khởi kiện dân sự hoặc đề nghị cơ quan quản lý thị trường, công an kinh tế kiểm tra và xử phạt.
Ngoài ra, để phòng ngừa lâu dài, doanh nghiệp nên đăng ký bảo hộ đầy đủ cho các sản phẩm, thường xuyên giám sát thị trường và áp dụng dấu hiệu nhận diện khó sao chép. Việc xử lý kịp thời không chỉ bảo vệ quyền lợi kinh tế mà còn giữ gìn uy tín doanh nghiệp trước Khách hàng.
Trên đây là phần phản hồi pháp lý của Phan Law Vietnam xin được thông tin đến Quý Khách hàng. Nếu còn vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý khác Quý Khách hàng vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để được giải đáp.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư