Tiền bản quyền là gì? Ai có quyền được nhận tiền bản quyền?
Trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, tiền bản quyền là một trong những quyền lợi kinh tế quan trọng mà tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan có thể nhận được từ việc khai thác tác phẩm, cuộc biểu diễn hoặc bản ghi âm, ghi hình. Đặc biệt, đối với lĩnh vực âm nhạc, một sản phẩm được đưa lên nền tảng số có thể liên quan đến nhiều chủ thể quyền khác nhau. Do đó, việc xác định ai có quyền nhận tiền bản quyền không đơn thuần căn cứ vào việc ai là người đăng tải nội dung đầu tiên hoặc ai đang quản lý tài khoản chứa tác phẩm.
Theo khoản 10a Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2009 sửa đổi bổ sung 2019, 2022, 2025 (Luật SHTT) quy định: “Tiền bản quyền là khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao.”.

Ví dụ: Đối với một sản phẩm âm nhạc, cần phân biệt ít nhất ba nhóm quyền cơ bản:
- Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc: Thuộc về tác giả sáng tạo ra phần nhạc, lời bài hát hoặc các phần sáng tạo khác. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định pháp luật.
- Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn: Phát sinh đối với người biểu diễn như ca sĩ, nhạc công và những chủ thể biểu diễn khác. Người biểu diễn có các quyền nhân thân và quyền tài sản theo Luật Sở hữu trí tuệ.
- Quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình: Gắn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, là chủ thể thực hiện việc định hình âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc âm thanh, hình ảnh khác theo quy định pháp luật.
Các nhóm quyền này tồn tại độc lập nhưng có thể cùng được khai thác trong một sản phẩm âm nhạc. Chẳng hạn, một bài hát có thể do một nhạc sĩ sáng tác, một ca sĩ thể hiện và một đơn vị sản xuất thực hiện bản ghi âm. Khi bài hát được sử dụng trên nền tảng số, quyền và lợi ích kinh tế của từng chủ thể cần được xác định theo đúng đối tượng quyền, phạm vi chuyển giao và thỏa thuận khai thác.
Vì vậy, không phải cứ là ca sĩ thể hiện bài hát thì đương nhiên được nhận toàn bộ tiền bản quyền từ việc khai thác bài hát đó. Ngược lại, việc một đơn vị sở hữu bản ghi âm hoặc được giao quyền quản lý, phân phối nội dung cũng không đồng nghĩa đơn vị này đương nhiên sở hữu toàn bộ quyền tác giả đối với phần nhạc và lời của tác phẩm.
Quyền nhận tiền bản quyền được pháp luật bảo vệ như thế nào?
Theo Điều 6 và Điều 49 Luật SHTT quy định, quyền tác giả được xác lập kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa và đã đăng ký quyền tác giả hay chưa. Do đó, việc đăng ký quyền tác giả không phải điều kiện bắt buộc để quyền tác giả phát sinh. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có ý nghĩa chứng cứ quan trọng khi xảy ra tranh chấp, nhưng không phải căn cứ duy nhất để xác định ai là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
…
Điều 49. Đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan
1. Đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
2. Việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật này.
2a. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan phải chịu trách nhiệm đối với các thông tin nêu trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.
4. Tổ chức, cá nhân phải nộp phí, lệ phí khi tiến hành các thủ tục đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan về cấp, cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
5. Chính phủ quy định chi tiết về thành phần hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục và thời hạn cấp, cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
Như vậy, trong môi trường số việc một bài hát, bản nhạc hoặc tác phẩm mỹ thuật… được đăng tải trên Internet sau khi đã được sáng tạo không vì thế mà làm phát sinh quyền sở hữu cho người đăng tải trước. Thời điểm đăng tải, thời điểm đưa nội dung vào hệ thống nhận diện tự động và thời điểm xác lập quyền tác giả là những vấn đề pháp lý khác nhau.
Theo khoản 2 Điều 20 Luật SHTT quy định, cá nhân khai thác các quyền tài sản phải được chủ sở hữu cho phép và thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác. Khoản tiền này có thể được xác định thông qua hợp đồng chuyển giao, hợp đồng sử dụng quyền hoặc cơ chế thanh toán theo quy định pháp luật. Vì vậy, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan có quyền yêu cầu thanh toán khoản tiền tương ứng với quyền lợi hợp pháp của mình.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
Đồng thời, theo Điều 44a Luật SHTT có quy định rõ về nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền, trong đó các đồng chủ sở hữu thỏa thuận tỷ lệ phân chia căn cứ vào phần tham gia sáng tạo, phần vốn góp và hình thức khai thác, sử dụng tác phẩm:
1. Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ lệ phân chia tiền bản quyền theo phần tham gia sáng tạo đối với toàn bộ tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, phần vốn góp và phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.
2. Tỷ lệ phân chia tiền bản quyền khi bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện theo thỏa thuận của chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình đó; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Tiền bản quyền được xác định theo khung và biểu mức căn cứ vào loại hình, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng; hài hòa lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội theo thời gian và địa điểm diễn ra hành vi khai thác, sử dụng đó.
Content ID và vấn đề xác định chủ thể có quyền khai thác tác phẩm
Trong môi trường số, các nền tảng chia sẻ nội dung sử dụng hệ thống nhận diện tự động nhằm phát hiện những nội dung có dấu hiệu trùng khớp với dữ liệu đã được chủ thể quyền cung cấp, Content ID của YouTube là một ví dụ về cơ chế này. Tuy nhiên, việc đăng ký nội dung trên Content ID không đồng nghĩa với việc xác lập quyền tác giả hay quyền sở hữu đối với tác phẩm. Đây chỉ là cơ chế quản lý nội dung của nền tảng, không thay thế căn cứ xác định quyền theo pháp luật. Vì vậy, việc một đơn vị đăng ký nội dung trước không mặc nhiên chứng minh đơn vị đó là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với tác phẩm âm nhạc, quyền tác giả đối với phần nhạc, lời bài hát và quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm có thể thuộc về những chủ thể khác nhau. Do đó, đơn vị được giao quản lý hoặc khai thác bản ghi âm không đương nhiên sở hữu toàn bộ quyền đối với tác phẩm hay được hưởng toàn bộ doanh thu. Việc thu và phân chia tiền bản quyền phải căn cứ vào quyền được chuyển giao, phạm vi ủy quyền và thỏa thuận giữa các bên. Nếu khai thác vượt quá phạm vi quyền được giao hoặc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, chủ thể liên quan có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định.
Trao đổi với Báo Thanh Niên, luật sư Phan Vũ Tuấn chia sẻ quan điểm: Về mặt bản chất công nghệ content ID hay MCN (mạng lưới đa kênh) đều đưa ra nguyên tắc ai đăng ký lên trước thì có quyền, ai đăng ký lên sau thì không có quyền. Tuy nhiên, không phải bất cứ nghệ sĩ nào cũng hiểu được câu chuyện đó. Từ đó, khi những nghệ sĩ đăng tải bài hát lên thì bị báo cáo là đã có người đăng lên trước. Họ chỉ biết được thông tin như thế và cảm thấy đòi lại được bài hát của mình là may mắn lắm rồi. Tuy nhiên, nghệ sĩ lại không biết khoản tiền tác quyền mà đơn vị trước đã thu được là bao nhiêu, ai đã nhận số tiền đó và điều này không có công cụ để đo đếm.
Luật sư Tuấn cho rằng công nghệ Content ID vốn được xây dựng với mục tiêu bảo vệ bản quyền nhưng trên thực tế lại đang bị chi phối bởi các đơn vị nắm quyền khai thác nội dung thay vì các chủ thể thực hiện chức năng bảo vệ quyền tác giả. Theo ông, nếu “lá chắn công nghệ” không được sử dụng đúng mục đích thì rất dễ trở thành công cụ gây tổn hại cả về vật chất lẫn tinh thần đối với nghệ sĩ.
Do đó, để hạn chế nguy cơ bị chiếm dụng quyền khai thác, thất thoát tiền bản quyền hoặc gặp khó khăn khi chứng minh quyền sở hữu, tác giả, nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung cần chủ động quản lý tài sản trí tuệ ngay từ thời điểm sáng tạo và trước khi đưa tác phẩm vào khai thác thương mại, như:
- Chủ động lưu giữ chứng cứ chứng minh quyền tác giả;
- Kiểm tra kỹ hợp đồng trước khi giao quyền khai thác;
- Theo dõi thường xuyên doanh thu và hoạt động khai thác;
- Chủ động phản đối khi bị nhận diện hoặc khiếu nại bản quyền không đúng…
Văn phòng luật sư Phan Law Vietnam có cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên về lĩnh vực sở hữu trí tuệ có thể hỗ trợ tác giả, nghệ sĩ, nhà sản xuất và doanh nghiệp trong việc đánh giá quyền sở hữu, rà soát hợp đồng khai thác, xác định hành vi xâm phạm, xây dựng phương án yêu cầu thanh toán tiền bản quyền, thu thập chứng cứ và thực hiện các thủ tục bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Quý Khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư