Quyền tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là quyền mà chủ sở hữu được pháp luật trao để chủ động bảo vệ các quyền của mình trước những hành vi xâm phạm. Quyền này được quy định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật liên quan.
Quyền tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay được quy định như thế nào?
Nhằm bảo vệ tác phẩm sáng tạo thuộc quyền sở hữu của mình, đặc biệt là trên môi trường số, chủ thể quyền có quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sau đây theo khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 – sau đây gọi tắt là “Luật SHTT”):
a) Áp dụng biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trong đó, biện pháp công nghệ bảo vệ quyền nêu tại điểm a trên được định nghĩa tại khoản 10b Điều 4 Luật SHTT là “biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong quá trình hoạt động bình thường có chức năng chính nhằm bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hành vi được thực hiện mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan”.

Việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm có thể do Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội thực hiện. Nếu bên bị yêu cầu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm thì có thể yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí hợp lý để thuê luật sư hoặc các chi phí khác theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 199 Luật SHTT, khi xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân thì sẽ áp dụng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy vào tính chất, mức độ xâm phạm. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước còn có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, nếu hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xác định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho chủ thể quyền thì những chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự theo quy định pháp luật.

Bên cạnh việc chủ thể quyền tự mình thực hiện những biện pháp trên để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm của mình, chủ thể quyền cũng có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện.
Lưu ý, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải trong mức độ hợp lý, nếu chủ thể quyền lạm dụng quá mức thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hạicó quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lạm dụng thủ tục đó phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong đó bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư. Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục này theo khoản 5 Điều 198 Luật SHTT.
Trên đây là tư vấn của Phan Law Vietnam về “Quyền tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay được quy định như thế nào?” xin được thông tin đến Quý Khách hàng. Nếu còn vướng mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý khác Quý Khách hàng vui lòng liên hệ thông tin dưới đây để được giải đáp.
PHAN LAW VIETNAM
Hotline: 0794.80.8888
Email: info@phan.vn
Liên hệ Văn phòng Luật Sư